Nội dung lược chí huyện Sốp Cộp


       

Sốp Cộp là huyện vùng cao, biên giới của tỉnh Sơn La, được thành lập theo Nghị định số 148/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ và là huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ. Diện tích tự nhiên 148.088 ha, huyện có 8 đơn vị hành chính cấp xã, gồm: Sốp Cộp, Mường Và, Mường Lạn, Nậm Lạnh, Dồm Cang, Púng Bánh, Sam Kha và Mường Lèo; 126 bản, 3 cụm dân cư, đều là các xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135 giai đoạn II. Sốp Cộp có 7.128 hộ với 39.160 nhân khẩu có 6 dân tộc sinh sống (dân tộc Thái 62,2%, dân tộc Mông 17,8%, dân tộc Khơ Mú 6,1%, dân tộc Lào 11,3%, dân tộc Kinh 2,4%). Địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao và hệ thống suối, kết cấu hạ tầng còn hạn chế. Huyện có 120 km đường biên giới giáp với 3 huyện của 2 tỉnh: Hủa Phăn và Luông Pha Băng (nước CHDCND Lào).

          I. LỊCH SỬ.

 1. Quá trình thành lập huyện và những thay đổi địa giới qua các thời kỳ.

Thực hiện Nghị định số 148/2003/NĐ-CP ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập huyện Sốp Cộp và điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Thuận Châu, Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La.

2. Biên niên những sự kiện lịch sử đã diễn ra tại huyện

Ngày 26/12/2003, Ban Thường vụ tỉnh ủy Sơn La đã ban hành Quyết số 638-QĐ/TU về việc thành lập Đảng bộ huyện Sốp Cộp trực thuộc Tỉnh ủy Sơn La và chỉ định 25 đồng chí tham gia Ban chấp hành lầm thời, Ban thường vụ Huyện ủy gồm 11 đồng chí, Thường trực Hyện uỷ 3 đồng chí, Tỉnh ủy đã tổ chức lễ công bố thành lập Đảng bộ huyện Sốp Cộp vào ngày 30/12/2003.

UBND tỉnh đã chỉ định 11 đồng chí tham gia Thường trực và các thành viên UBND huyện lâm thời và tổ chức lễ ra mắt huyện Sốp Cộp vào ngày 09/01/2004.

Huyện Sốp Cộp được thành lập là một sự kiến chính trị quan trọng, đáp ứng nguyện vọng và sự mong đợi hàng chục năm nay của cán bộ, nhân dân các dân tộc huyện Sông Mã nói chung, 8 xã vùng Sốp Cộp nói riêng. Việc thành lập huyện là thời cơ để huyện phát huy lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, con người, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, thực hiện xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, góp phần củng cố, tăng cường công tác quốc phòng an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, toàn diện từ huyện đến cơ sở.

Đảng bộ đã tập trung chỉ đạo tổ chức thành công Đại hội đảng bộ huyện nhiệm kỳ I (2005-2010) và nhiệm kì II (2010-2015), tổ chức thành công việc bầu cử HĐND các cấp, bầu cơ quan lãnh đạo HĐND, UBND từ cấp huyện đến cấp xã.

Hiện nay trên địa bàn huyện, nhiều chương trình, dự án đã và đang được triển khai để tăng cường cơ sở vật chất, cũng như tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ, giúp người dân tiếp cận với khoa học kỹ thuật trong sản xuất, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi. Cơ cấu kinh tế của huyện được chuyển dịch đúng hướng, phát huy được thế mạnh trong nông nghiệp, phát triển chăn nuôi đại gia súc và trồng rừng. Trong những năm qua, nền kinh tế của Sốp Cộp luôn có tốc độ tăng trưởng khá, cơ sở vật chất, kinh tế xã hội và hạ tầng được quan tâm và đạt nhiều kết quả quan trọng; trung tâm huyện lỵ cơ bản giải phóng mặt bằng, các khu đô thị mới được hình thành, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; sự nghiệp y tế, giáo dục không ngừng phát triển; văn hoá tinh thần của nhân dân được nâng lên; các bức xúc xã hội được đẩy lùi; an ninh quốc phòng được giữ vững và ổn định, công tác đối ngoại ngày càng mở rộng và nâng cao, giữ gìn tình đoàn kết hữu nghị gắn bó với nước bạn Lào anh em.

Sốp Cộp hôm nay đang vươn lên từng ngày, đặc biệt ngày 4/11/2008 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1584/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển kinh tế - xã hội huyện Sốp Cộp đến năm 2015, đây chính là điều kiện để Sốp Cộp phát huy tiềm năng, lợi thế, tranh thủ mọi nguồn lực để xây dựng huyện Sốp Cộp trở thành huyện vùng cao biên giới có kinh tế - xã hội phát triển, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh chính trị được giữ vững.

II. KINH TẾ.

1. Khái quát kinh tế của huyện.

          Cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn, là vùng xung yếu về an ninh quốc phòng thuộc phía Tây Bắc của Tổ quốc, biên giới còn tiềm ẩn những diễn biến phức tạp, truyền học đạo trái pháp luật vẫn còn diễn ra. Định hướng cho việc phát triển kinh tế - xã hội của huyện Thủ tướng chính phủ đã có Quyết định 1584/QĐ-TTg, ngày 04.11.2008 về việc phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế – xã hội huyện Sốp Cộp tỉnh Sơn La đến năm 2015. Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững huyện Sốp Cộp năm 2009- 2020: hỗ trợ đầu tư ổn định dân cư, phát triển xản xuất, an sinh xã hội; với mục tiêu đưa huyện Sốp Cộp dần thoát khỏi tình trạng khó khăn, trở thành một huyên khá trong tỉnh.

          Hiện nay được sự quan tâm chỉ đạo của Phính phủ và các Bộ ngành Trung ương, tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, Ban chỉ đạo thực hiện các đề án của tỉnh, các Sở ngành, sự cố gắng, nỗ lực phấn đấu của cán bộ chiến sỹ lực lượng vũ trang, nhân dân các dân tộc trong toàn huyện; huyện Sốp Cộp đã tập chung lãnh đạo, chỉ dạo có trọng tâm trong điểm các công việc, quan tâm thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo gắn với nhiệm vụ quốc phòng an ninh. Do đó kinh tế từng bước được phát triển, quốc phòng an ninh được giữ vững, kết cấu hạ tầng được tăng cường, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Hệ thống thuỷ lợi, giao thông từ huyện trung tâm huyện đến trung tâm xã  được đầu tư xây dựng. Trụ sở làm việc Huyện uỷ, HĐND-UBND, một số công trình thiết yếu trung tâm hành chính huyện đã được đầu tư. Nhân dân được hỗ trợ sản xuất kinh doanh, khai hoá phục hoá, đưa giống cây trồng, vật nuôi có năng xuất, chất lượng vào sản xuất.

          Tuy nhiên còn có một số tồn tại hạn chế: Do nguồn vốn có hạnnên đa số các dự án đang thi công dở dang, giao thông từ trung tâm huyên đến trung tâm một số xã gặp khó khăn. Các hộ sản xuất nông nghiệp thu nhập thấp; các hộ sản xuất kinh doanh giỏi chưa có nhiều và chưa được nhân ra diện rộng.

2. Thế mạnh kinh tế của huyện.

Diện tích tự nhiên 148.088 ha, trong đó đất chưa sử dụng còn trên 81.700ha, có thể sử dụng đưa vào sản xuất nông nghiệp (7.000ha) và sản xuất lâm nghiệp (62.000ha). Lực lượng lao động nông nghiệp của huyên dồi dào, thời gian nông nhàn còn nhiều. Có đường biên giới với nước CHDCND Lào dài 120km,  trong tương lai thuận lợi cho việc đầu tư xây dựng các khu trung tâm kinh tế cửa khẩu (cửa khẩu Lạnh Bánh) giao lưu buôn bán, liên doanh liên kếthợp tác phát triển với nước bạn.

3. Những ngành nghề phát triển kinh tế tại huyện.

Ngành trong tâm của huyện là sản xuất nông lâm nghiệp, trong đó tập trung vào phát triển chăn nuôi đại gia súc, nhận khoán chăm sóc bảo vệ rừng trồng rừng và một số cây công nghiệp như: cà phê, bông

4. Nông nghiệp.

- Diện tích các loại cây trông chính:

 Diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt: 7.163 ha, bằng 113,95% kế hoạch, bằng 112,7% so với năm 2012.

- Diện tích lúa chiêm xuân 802/796 ha, đạt 100,8% so kế hoạch huyện giao, bằng 100,8% so với cùng kỳ năm 2012.

- Lúa Mùa: đã gieo cấy 1.192,4/1.190 ha, đạt 100% kế hoạch.

- Diện tích lúa nương: 2.969/2.100 ha, đạt 141,4% so kế hoạch.

- Diện tích ngô: 2.200/2.200 ha, đạt 95,9% so kế hoạch.

- Diện tích sắn: 2.252/1700 ha, đạt 132,5% so kế hoạch.

- Diện tích cây cà phê đạt 405 ha, bằng 326,6% so với năm 2012, diện tích kinh doanh đạt 48 ha, năng suất bình quân ước đạt 15 tạ/ha.

- Diện tích Lạc đạt 138 ha, đạt 98,6% so với kế hoạch, năng suất ước đạt 9 tạ/ha, sản lượng đạt 124,2 tấn.

- Tổng diện tích cây ăn quả trên địa bàn huyện đạt 358,5 ha, bằng 100% so với kế hoạch, bằng 100% so với năm 2012; Sản lượng quả các loại đạt 428,1 tấn.

- Những Vật nuôi chính:

- Đàn trâu hiện có 12.505 con, bằng 102,88% so với cùng kỳ năm 2012.

- Đàn bò 7.545 con, bằng 104% so với cùng kỳ năm 2012.

- Đàn lợn 17.946 con, bằng 82,89% so với cùng kỳ năm 2012.

- Đàn gia cầm 169.691 con, bằng 86% so với cùng kỳ năm 2012.

- Đàn Dê 3.562 con, bằng 83,69% so với cùng kỳ năm 2012.

- Đàn Ngựa 1.015 con, bằng 92,11% so với cùng kỳ năm 2012.

- Ong 1.145 tổ, bằng 100% so với cùng kỳ năm 2012.

- Nhím: 1.450 con, bằng 86,57% so với cùng kỳ năm 2012.

- Khai thác thuỷ sản tự nhiên và nuôi trồng thuỷ sản.

Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản 156,2 ha (cá 155 ha) đạt 85,8% kế hoạch, tổng sản lượng nuôi trồng và đánh bắt 330 tấn, trong đó 322 tấn (cá 300 tấn), sản lượng khai thác khai thác 8 tấn bằng 102% so với cùng kỳ.

Các công trình thuỷ lợi trên địa bàn huyện.

Hiện nay trên địa bàn huyện Sốp Cộp có 203 công trình thuỷ lợi các loại, trong đó có: 64 công trình đập xây kiên cố thuộc vốn ngân sách nhà nước đầu tư, còn lại 139 phai tạm bằng gỗ, đá các loại phục vụ tưới tiêu cho: 2.257,9 ha lúa, hoa màu và nuôi trồng thuỷ sản…

- Số trang trại nông nghiệp phân theo ngành để hoạt động: không

- Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu.

- Sản lượng lương thực có hạt ước đạt: 21.600 tấn, đạt 106,3% kế hoạch, bằng 110,2% so với năm 2012, trong đó: thóc đạt 14.340 tấn, ngô đạt 7.260 tấn.

- Sản lượng sắn: 2.297 tấn.

- Sản lượng cà phê nhân đạt 72 tấn.

- Sản lượng quả các loại: 1.166 tấn.

- Sản lượng thịt hơi xuất chuồng các loại: 1.800 tấn.

5. Lâm nghiệp.

- Doanh nghiệp lâm nghiệp trên địa bàn huyện: 01

- Sản phẩm lâm nghiệp: Gỗ, tre, măng, giống cây trồng (công nghiệp, lâm nghiệp)

6. Công nghiệp (chưa có).

7. Thuỷ điện (chưa có).

8. Các nghề thủ công truyền thống của huyện: chưa có.

9. Giao thông vận tải.

Giao thông - vận tải thông suốt đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất và đi lại của nhân dân. Quốc lộ qua huyện: đường 105, đến nay tổng số km đường giao thông trên địa bàn huyện là 603,75 Km. Trong đó gồm: Hệ thống giao thông đường biên giới dài 120 Km, trục đường quốc lộ với tổng chiều dài 9,75 Km (từ Km110 - Km119 đường Sông Mã đi Sốp Cộp), Trục đường tỉnh lộ 105 từ trung tâm huyện Sốp Cộp - Mường Lèo - Mường Lói có chiều dài tuyến là 64 Km và 4 trục đường huyện lộ đó là: Tuyến Sốp Cộp - Mường Và - Mường Lạn chiều dài tuyến đường là 28 Km; Tuyến Sốp Cộp - Nậm Lạnh đi mốc D1 chiều dài tuyến đường là 31 Km; Tuyến Púng Bánh - Sam Kha chiều dài tuyến đường là 17 Km; tuyến Mường Và - Mường Cai có chiều dài là 10 Km. Các tuyến đường xã gồm 59 tuyến với tổng chiều dài 324 Km đều là đường đất. Tổng các tuyến đường cơ bản mới nhựa hoá và bê tông được khoảng 150/603,75 Km đạt 24,84%. Hiện tại chỉ có 2/8 xã (xã Sốp Cộp và Mường Và) có đường ô tô từ trung tâm huyện đến trung tâm xã đi được 4 mùa, 6/8 xã còn lại chỉ đi được mùa khô, về mùa mưa việc đi lại còn gặp rất nhiều khó khăn. Các tuyến đường giao thông được đầu tư xây dựng đã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh trên địa bàn huyện.

10. Bưu chính viễn thông

Công tác Bưu chính : có 01 Bưu cục trung tâm và 7 bưu cục cơ sở được đảm bảo thông suốt, an toàn. Hệ thống báo, tạp chí của Đảng được cấp đầy đủ, kịp thời đến 100% cấp ủy, tổ chức đảng theo đúng quy định.

Công tác viễn thông: hiện tại tỷ lệ phủ sóng thông tin di động đến 100% các xã; đến tháng 5.2013, toàn huyện có 1.837 thuê bao cố định, khoảng 6.648 thuê bao di động, 275 thuê bao internet .

11. Thương mại, dịch vụ.

Tập trung phát triển các ngành dịch vụ cả về loại hình và quy mô, tổ chức tốt hệ thống lưu thông, phân phối đối với các loại hàng hóa, dịch vụ. Do vậy, hàng hoá trên địa bàn đã cơ bản đáp ứng nhu cầu các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhân dân trong toàn huyện. Các doanh nghiệp vận tải trên địa bàn huyện đảm bảo lưu thông và phục vụ vận chuyển hành khách an toàn

12. Du lịch: không có.

III. VĂN HOÁ.

1. Di tích lịch sử văn hoá.

Tháp Mường Và, là tháp cổ cao 13m, gồm 5 tầng với một nghệ thuật kiến trúc điêu khắc tinh xảo, năm 1998 toà tháp này đã được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận là “Di tích văn hoá”.

2. Cảnh đẹp: Không có

3. Công trình văn hoá mới: nhà tưởng niệm của huyện và 8 xã.

4. Lễ hội truyền hống dân gian: Lễ hộ xên bản Mường Và – xã Mường Và; lễ hội khảu hó dân tộc Lào.

5. Phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng

- 104 đội (99 đội thường xuyên), nội dung: ca múa nhạc, tấu nói. 5 câu lạc bộ gia đình, có nội dung phòng chống bạo lực gia đình

          V. GIÁO DỤC.

          1. Trước CM tháng 8/1945....

          2. Hệ thống trường học của huyện

          - Mầm non: có 11 trường, 178 giáo viên, 168 lớp, 3.381 học sinh.

          - Tiểu học:  11 trường, 301 lớp, 324 giáo viên, 4737 học sinh.

          - THCS: 8 trường, 117 lớp,  244 giáo viên, 4.737 học sinh.

          - THPT: 2 trường, 38 lớp, 87 giáo viên, 1.404 học sinh.

          VI. Y TẾ:

          1. Các cơ sở khám chữa bệnh tại huyện

          - Công: 10; tư: 2.

          2. Thầy thuốc ở huyện:

          - Nhân lực: 291(cả ytế thôn bản). Trong đó: Y sỹ: 47, Bác sỹ: 18, BSCKI: 3, điều dưỡng: 41, dược sỹ 12, còn lại là nhân viên khác.

          3. Những cây thuốc quý:

          - Đẳng sâm, sa nhân, chanh, xả, hẹ, hương nhu, tía tô, kinh giới, gừng...