Hỏi - đáp Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020

Ngày 27 tháng 10 năm 2020


 

Một phiên xét xử tại Tòa án Nhân dân tỉnh.

Ảnh: Nguyễn Thư

 

Hỏi: Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020 (sau đây gọi tắt là Luật) được Quốc hội thông qua ngày, tháng, năm nào? Thời điểm có hiệu lực của Luật? Luật có bao nhiêu chương và bao nhiêu điều? Phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Luật? Thế nào là hòa giải tại tòa án và đối thoại tại tòa án?


Đáp:


* Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020 được thông qua ngày 16/6/2020 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV; Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021; Luật gồm 4 Chương, 42 Điều.


Phạm vi điều chỉnh của Luật quy định nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải, đối thoại tại Tòa án; quyền, nghĩa vụ của Hòa giải viên tại Tòa án, các bên tham gia hòa giải, đối thoại tại Tòa án; trách nhiệm của Tòa án trong hoạt động hòa giải, đối thoại; trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại và công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án.


Hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính.


Luật này không áp dụng đối với hoạt động hòa giải, đối thoại đã được luật khác quy định.


* Theo quy định tại điều 2 của Luật quy định như sau:


- Hòa giải tại Tòa án là hoạt động hòa giải do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự, nhằm hỗ trợ các bên tham gia hòa giải thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự theo quy định


- Đối thoại tại Tòa án là hoạt động đối thoại do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ án hành chính, nhằm hỗ trợ các bên tham gia đối thoại thống nhất giải quyết khiếu kiện hành chính theo quy định của Luật này.


Hỏi: Các bên tham gia hòa giải, đối thoại tại Tòa án có những quyền và nghĩa vụ gì?


Đáp: Theo quy định tại Điều 8 của Luật, quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hòa giải, đối thoại tại Tòa án được quy định như sau:


1. Các bên có các quyền sau đây:


a) Đồng ý hoặc từ chối tham gia hòa giải, đối thoại hoặc chấm dứt hòa giải, đối thoại;


b) Trực tiếp hoặc thông qua người đại diện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 25 của Luật này tham gia hòa giải, đối thoại;


c) Lựa chọn Hòa giải viên trong danh sách Hòa giải viên của Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính; trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện thì có thể lựa chọn Hòa giải viên của Tòa án nhân dân cấp huyện khác trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án nhân dân cấp tỉnh;


d) Đề nghị thay đổi Hòa giải viên theo quy định của Luật này;


đ) Tự bố trí hoặc đề nghị Hòa giải viên bố trí phiên dịch trong trường hợp người tham gia hòa giải, đối thoại là người không biết tiếng Việt, người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn;


e) Yêu cầu Hòa giải viên, người tham gia hòa giải, đối thoại, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, Thẩm phán tham gia phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại giữ bí mật thông tin do mình cung cấp;


g) Bày tỏ ý chí, đề xuất phương thức, giải pháp giải quyết tranh chấp, yêu cầu, khiếu kiện; thống nhất về nội dung hòa giải, đối thoại;


h) Yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành;


i) Yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện các nội dung đã hòa giải thành, đối thoại thành;


k) Đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành theo quy định của Luật này.


2. Các bên có các nghĩa vụ sau đây:


a) Tuân thủ pháp luật;


b) Tham gia hòa giải, đối thoại với tinh thần thiện chí, hợp tác để thúc đẩy quá trình hòa giải, đối thoại đạt kết quả tích cực; trình bày chính xác tình tiết, nội dung của vụ việc, cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc theo yêu cầu của Hòa giải viên;


c) Chịu trách nhiệm về tính xác thực của các thông tin, tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp trong quá trình hòa giải, đối thoại; nếu thông tin, tài liệu, chứng cứ cung cấp là giả mạo thi kết quả hòa giải, đối thoại bị vô hiệu; trường hợp có dấu hiệu tội phạm thì bị xử lý theo quy định của pháp luật về hình sự; nếu gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật;


d) Tôn trọng Hòa giải viên và các bên có liên quan; thực hiện các yêu cầu của Hòa giải viên theo quy định của Luật này;


đ) Chấp hành quy chế hòa giải, đối thoại tại Tòa án;


e) Thực hiện các nội dung đã hòa giải thành, đối thoại thành.


Linh Loan (Sở Tư pháp)

Tìm kiếm theo ngày