Bước chuyển mạnh mẽ trong phát triển Đảng ở bản, trường học, trạm y tế

Ngày 13 tháng 02 năm 2020

Thực hiện chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XII (nhiệm kỳ 2005-2010) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, Ban Thường vụ tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 10/2/2006 về phát triển Đảng ở bản, trường học, trạm y tế chưa có đảng viên và tổ chức Đảng nhằm đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng trên mọi lĩnh vực, mọi địa bàn dân cư.

 

 

Một buổi sinh hoạt của Chi bộ bản Pán II, xã Chiềng Ly, Thuận Châu.

 

Nhìn lại thời điểm Ban Thường vụ tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 10/2/2006, khi đó toàn tỉnh có 3.814 bản, trường học, trạm y tế, trong đó có 86 cơ sở chưa có đảng viên (76 bản, 6 trường học, 4 trạm y tế); 995 cơ sở đã có đảng viên nhưng chưa đủ điều kiện để thành lập chi bộ (700 bản, 144 trường học, 151 trạm y tế). Các cơ sở chưa có đảng viên và tổ chức Đảng hầu hết đều ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp kém, đời sống của đồng bào còn thiếu thốn, nhận thức còn hạn chế, do đó khó khăn trong công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức về Đảng và quán triệt, triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Tại nhiều địa phương thuộc vùng có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống, một trong những khó khăn trong công tác phát triển Đảng chính là thiếu nguồn phát triển đảng viên mới. Thực trạng này đòi hỏi các cấp ủy có giải pháp tháo gỡ một cách linh hoạt, phù hợp với đặc thù từng địa phương, song vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc, Điều lệ Đảng, phát hiện, giới thiệu những hạt nhân tiêu biểu, quần chúng ưu tú cho Đảng.

 

Ban Tổ chức tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 01-HD/BTCTU ngày 10/2/2006 về hướng dẫn thực hiện Nghị quyết. Các cấp ủy từ huyện đến cơ sở đã tổ chức hội nghị triển khai, quán triệt, ban hành các văn bản cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết; thành lập Ban Chỉ đạo và tổ công tác chỉ đạo thực hiện Nghị quyết; phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên để chỉ đạo thực hiện từng cơ sở; phân công cán bộ, đảng viên, quần chúng ưu tú phụ trách, giúp đỡ các cơ sở, xây dựng kế hoạch và đề ra chỉ tiêu, giải pháp cụ thể, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho cơ sở.

 

Qua 9 tháng thực hiện Nghị quyết đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, toàn tỉnh đã kết nạp được 413 đảng viên (đảng viên kết nạp 67 đảng viên ở những cơ sở chưa có đảng viên; kết nạp 346 đồng chí ở cơ sở đã có đảng viên nhưng chưa đủ điều kiện thành lập chi bộ, trong đó ở bản 292, trường học 93, trạm y tế 28, là dân tộc thiểu số 332, là đoàn viên thanh niên 256, ở bản đặc biệt khó khăn 50, ở bản biên giới 21). Có 343 chi bộ được thành lập mới (222 bản, 47 trường học, 74 trạm y tế), chiếm 28,6% tổng số cơ sở. Qua theo dõi, đánh giá, đa số đảng viên ở các xã, bản vùng đặc biệt khó khăn sau khi kết nạp đã nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu, ý thức trách nhiệm trong các lĩnh vực được phân công; bước đầu đã có những đóng góp tích cực vào sự lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ. Các chi bộ sau khi được thành lập đã phát huy tốt vai trò lãnh đạo phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, giữ gìn ANTT. Đối với các tổ chức cơ sở Đảng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, công tác phát triển Đảng càng có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt, góp phần củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, lãnh đạo thực hiện toàn diện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và tăng cường củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trên địa bàn.

 

Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết, các cấp ủy định kỳ tổ chức đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm, đề ra các giải pháp cụ thể để tiếp tục triển khai hiệu quả. Công tác phát triển Đảng gắn liền với công tác xóa đói, giảm nghèo, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Coi kết quả công tác phát triển đảng viên và thành lập chi bộ ở cơ sở chưa có đảng viên và chi bộ đảng là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để xét thi đua hàng năm.

 

Với những nỗ lực của toàn Đảng bộ, số lượng đảng viên và chi bộ đã tăng theo từng năm, đảm bảo cả về số lượng và chất lượng. Đến thời điểm 31/12/2019, Đảng bộ tỉnh có 17 đảng bộ trực thuộc gồm 12 đảng bộ huyện, thành phố, 3 đảng bộ lực lượng vũ trang (quân sự, công an, biên phòng), Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh, Đảng bộ cơ sở Trường Đại học Tây Bắc; 608 tổ chức cơ sở đảng (356 đảng bộ, 252 chi bộ), 4.429 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở với 85.651 đảng viên. Toàn tỉnh hiện chỉ còn 1 bản chưa có chi bộ, chiếm 0,03% bản, tiểu khu, tổ dân phố.

 

Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 10/2/2006 của Ban Thường vụ tỉnh ủy về phát triển Đảng ở bản, trường học, trạm y tế chưa có đảng viên và tổ chức Đảng đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng; số lượng, chất lượng đảng viên ngày càng được nâng lên; tạo nguồn cán bộ ở cơ sở, lãnh đạo chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc ở địa phương, đặc biệt là tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Tìm kiếm theo ngày